Bạn có biết rằng tất cả các cung trong Chiêm tinh đều có khả năng Vô Chính Diệu? Điều đặc biệt là khi một cung đã Vô Chính Diệu, cung xung chiếu luôn luôn có chính Tính. Tuy nhiên, trong trường hợp cung tam hợp với cung Vô Chính Diệu, có thể không có chính Tính. Cùng mình khám phá chi tiết nhé!
Cung Tý Ngọ, Thìn Tuất, Tỵ Hợi – Vô Chính Diệu không có chính Tính
Cung Tý Ngọ Vô Chính Diệu có Đồng Âm xung chiếu, Cự Dương tam hợp. Tương tự, cung Thìn Tuất có Cơ Lương xung chiếu, Cự Dương tam hợp. Còn cung Tỵ Hợi Vô Chính Diệu có Liêm Tham xung chiếu, Phủ và Tướng tam hợp.
Cung Sửu Mùi, Dần Thân, Mão Dậu – Vô Chính Diệu có chính Tính
Cung Sửu Mùi Vô Chính Diệu có Đồng Cự xung chiếu, Thái Âm và Dương Lương tam hợp. Cung Sửu Mùi Vô Chính Diệu có Nhật Nguyệt xung chiếu, Cự Cơ và Thiên Đồng tam hợp. Và cung Sửu Mùi Vô Chính Diệu có Vũ Tham xung chiếu, Phủ và Tướng tam hợp.
Cung Dần Thân Vô Chính Diệu có Đồng Lương xung chiếu, Cự Dương tam hợp. Cung Dần Thân Vô Chính Diệu có Cơ Âm xung chiếu, Cự và Dương tam hợp. Cung Dần Thân có Cự Dương xung chiếu, Đồng Âm tam hợp.
Cung Mão Dậu Vô Chính Diệu có Dương Lương xung chiếu, Đồng Cự và Thiên Cơ tam hợp. Cung Mão Dậu Vô Chính Diệu có Tử Tham xung chiếu, Phủ và Tướng tam hợp. Cuối cùng, cung Mão Dậu Vô Chính Diệu có Cự Cơ xung chiếu, Âm Dương và Thiên Lương tam hợp.
Nguyên tắc luận giải về cung Vô Chính Diệu
Theo một số sách vở, khi gặp cung Vô Chính Diệu, ta có thể lấy chính tinh xung chiếu làm tọa thủ để luận đoán. Có nghĩa là nếu chính tinh này đắc hoặc hãm, thì đặc tính đắc hoặc hãm của nó sẽ được tạm sử dụng để luận giải tại cung Vô Chính Diệu. Quan điểm này có lý do vì các sao xung chiếu vừa là trực chiếu, vừa có ảnh hưởng sâu rộng đến các cung khác hơn các sao tam chiếu.
Ngũ hành bản Mệnh và cung Vô Chính Diệu
Thông thường, Mệnh Hỏa và Kim thường tốt hơn các Mệnh có hành khác. Bởi vì cung Vô Chính Diệu được ví như nhà không có nóc, cần có hành khí mạnh mẽ như Hỏa và Kim để làm nòng cốt.
Cung Vô Chính Diệu và Tuần Triệt án ngự
Ngoại trừ trường hợp cung Vô Chính Diệu có hung tinh đắc địa độc thủ, thì không nên có Tuần Triệt án ngự. Tất cả các trường hợp cung Vô Chính Diệu đều rất cần có Tuần hoặc Triệt án ngự tại bản cung để thu hút chính tinh về và ngăn chặn các ảnh hưởng xấu từ hung tinh đến cung Vô Chính Diệu. Nếu gặp Triệt tại Thân Dậu, Tuần tại Thìn Tí hoặc Dần Mão, thì càng tốt. Chú ý rằng cung Vô Chính Diệu gặp Tuần án ngự tốt đẹp hơn gặp Triệt, gặp Triệt cung chỉ đưa đến sự tốt đẹp của cung Vô Chính Diệu ở mức độ kha khá trong trường hợp có chính tinh sáng sủa xung chiếu và nhiều trung tinh sáng sủa hội chiếu. Tuy nhiên, nếu không có Tuần hoặc Triệt án ngự tại cung Vô Chính Diệu, thì hiệu quả ảnh hưởng của chính tinh xung chiếu yếu đi. Dù cung Vô Chính Diệu có nhiều sao sáng sủa hội chiếu, cũng không thể coi là rực rỡ, tốt đẹp được. Khi có Tuần hoặc Triệt án ngự tại cung Vô Chính Diệu, thì mặc dầu ban đầu có khó khăn, nhưng về sau lại thuận lợi hơn và tốt đẹp hơn. Tuần Triệt án ngự còn có tác dụng ngăn trở các sao xấu chiếu vào cung Vô Chính Diệu và giải cứu trường hợp phi yểu tác bần nếu Vô Chính Diệu tại cung Mệnh. Trường hợp Tuần Triệt án ngự đồng cung, ta có thể coi là cung Vô Chính Diệu này không tốt cũng không xấu, chỉ ở mức độ trung bình khá. Cần chú ý rằng có một số sao kỵ gặp Tuần Triệt, như Tướng Quân nếu đóng tại cung Vô Chính Diệu, nếu gặp Tuần Triệt, sẽ dễ đưa đến tai họa bất ngờ nếu rơi vào trường hợp đương đầu. Đặc biệt, nếu Vô Chính Diệu tại Tứ Mộ, thì lại rất cần Tuần Triệt án ngự.
Vô Chính Diệu có hung tinh đắc địa độc thủ
Trong trường hợp này, hung tinh đắc địa phải là hành Hỏa hoặc hành Kim. Đối với trường hợp này, ta chọn hung tinh này làm nòng cốt cho cung Vô Chính Diệu, không lấy chính tinh xung chiếu để giải đoán. Một số tác giả cho rằng hao bại tinh đắc địa có thể làm nòng cốt cho cung Vô Chính Diệu như Tang Môn (Mộc), Song Hao (Thủy), Khốc Hư (Thủy), nhưng theo thiển ý thì không chính xác. Mức độ tốt xấu của hung tinh đắc địa độc thủ có thể sắp xếp như sau:
- Bạch Hổ đắc địa tốt nhất, tại Thân Dậu tốt đẹp hơn tại Dần Mão.
- Kình Đà đắc địa, Kình đẹp hơn Đà.
- Không Kiếp đắc (Tỵ Hợi đẹp hơn Dần Thân), Hỏa Linh đắc.
- Thái Tuế, chỉ trong trường hợp Vô Chính Diệu như Mệnh Hỏa hoặc Kim và có hung tinh độc thủ, không gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ.
Một vài ghi nhận về vị trí của hung tinh đắc địa
- Không Kiếp hành Hỏa miếu địa tại Tỵ Hợi, đắc tại Dần Thân.
- Hỏa Linh hành Hỏa đắc địa tại cung ban ngày từ Dần tới Ngọ.
- Kình Đà hành Kim đới Hỏa, đắc địa tại Thìn Tuất Sửu Mùi.
- Bạch Hổ hành Kim đắc địa tại Dần Mão, Thân Dậu.
Hung tinh đắc địa phải là hành Kim và Hỏa mới có tác dụng mạnh và bản Mệnh phải đồng hành với hung tinh này thì mới hưởng tốt đẹp trọn vẹn. Các Mệnh khác thì hưởng yếu hơn, ta có thể tạm đánh giá chỉ nằm trong mức độ trung bình. Trong tất cả các trường hợp trên, ngoại trừ Bạch Hổ và Thái Tuế, còn có tác dụng tốt lâu dài về sau, còn lại các trường hợp khác thì tuy làm cho cung Vô Chính Diệu được sáng sủa rực rỡ, nhưng chỉ là một giai đoạn mà thôi, không có tác dụng tốt lâu dài. Mỗi sự xấu tốt đều đến nhanh, và không những vậy, Không Kiếp phát huy tính chất lên bất ngờ nhanh chóng nhất, nhưng cũng đưa đến suy bại nhanh nhất trong toàn bộ các hung tinh.
Nếu Mệnh Vô Chính Diệu có Tuần hoặc Triệt án ngữ, thì không áp dụng nguyên tắc lấy chính tinh xung chiếu làm tọa thủ. Trong trường hợp này, ta luận giải như trường hợp lấy chính tinh xung chiếu làm tọa thủ, với Tuần hoặc Triệt án ngữ tại cung.
Cung Vô Chính Diệu có Nhật Nguyệt xung chiếu hoặc Nhật Nguyệt sáng sủa tam hợp chiếu (Nhật Mão, Nguyệt Mùi):
Trong trường hợp này, nếu có đủ bộ Âm Dương sáng sủa tại cung Mão và Mùi Hợi chiếu hoặc Âm Dương đồng cung xung chiếu đến cung Vô Chính Diệu, ta lại chọn bộ Âm Dương này làm nòng cốt cho cung Vô Chính Diệu, chứ không lấy các chính tinh xung chiếu. Điều này là do qui luật của Nhật Nguyệt là chiếu đẹp hơn tọa thủ. Trong trường hợp này, ta có thể đoán rằng cung Vô Chính Diệu này trước có thể gặp trục trặc trắc trở, nhưng về sau thì khá tốt. Tốt hay xấu hơn phụ thuộc vào sự tụ tập của các sao khác. Nếu có Tuần hoặc Triệt án ngữ tại cung Vô Chính Diệu, thì cung Vô Chính Diệu này càng trở nên tốt đẹp hơn, gặp Tuần càng tốt hơn gặp Triệt. Trường hợp Nhật Mão Nguyệt Mùi, cần phải không bị sao nào làm giảm sức sáng, ví dụ như không có Tuần Triệt án ngữ Nhật Nguyệt, hoặc Hóa Kỵ đóng đồng cung làm giảm sức sáng của Nhật hoặc Nguyệt. Nếu một sao bị Tuần hoặc Triệt án ngữ hoặc bị Hóa Kỵ đồng cung, nghĩa là bị giảm sức sáng, thi sẽ đưa đến mức độ tốt giảm đi rất nhiều, cung Vô Chính Diệu trong trường hợp này chỉ tốt ở mức độ trên trung bình một chút mà thôi. Nếu Nhật Nguyệt được các phụ tinh làm tăng sức sáng như Xương Khúc Đào Hồng thì lại càng tốt đẹp bội phần. Chú ý rằng chỉ rơi vào hai trường hợp này, ta mới sử dụng bộ Nhật Nguyệt, còn tất cả các trường hợp khác, nếu có Âm Dương chiếu, ta cũng áp dụng nguyên tắc lấy chính tinh xung chiếu làm tọa thủ.
Mệnh VCD
Những người có Mệnh VCD thường nhạy bén và linh cảm, có giác quan thứ sáu, có thể linh cảm được những sự việc sắp xảy ra. Lúc còn nhỏ thường gặp nhiều vất vả, lận đận và dễ đau yếu. Tuy nhiên, khi lớn lên, thường dễ giảm thiểu được bệnh tật và tai họa, hoặc cảm nhận trước được sự việc sắp xảy ra. Thường hay mắc bệnh dị ứng hoặc từng mắc bệnh dị ứng trong đời. Thêm vào đó, những người này thường rất nhạy cảm khi gần người khác phái. Tuy nhiên, họ dễ thích ứng được với hoàn cảnh. Mệnh VCD thường không có lập trường tư tưởng vững vàng nếu không nằm trong các trường hợp đặc biệt đã nêu. Họ chỉ làm phụ tá thì bền, làm trưởng thì không bền, không thể đứng mũi chịu sào được, và hoạt động trong bóng tối hoặc ẩn danh là hay nhất. Cuộc sống của những người này thường không bền, trôi nổi. Ngay cả khi đắc cách, thường chỉ ở mức độ trung bình khá hoặc có một giai đoạn phú quí, nhưng cũng khả kỳ. Nếu là con trưởng, thường không sống gần cha mẹ, nên làm và nuôi dưỡng họ khác. Nếu gần cha mẹ, thì dễ chết non hoặc gặp khó khăn về vấn đề kinh tế. Mệnh VCD thì cần Hỏa mệnh và Kim mệnh, bởi VCD như nhà không nóc, cần bản mệnh có hành khí mạnh mẽ, cứng cỏi làm nồng cốt. Các mệnh khác như Thổ, Thủy, Mộc mệnh chưa chắc ăn được. Trong trường hợp đắc Tam không, cần Hỏa hoặc Kim mệnh và có hung tinh độc thủ là tốt nhất. Cũng có thể áp dụng cho tất cả các hành bản mệnh nếu có Nhật Nguyệt hội chiếu.
Kết luận
Qua việc tìm hiểu về Vô Chính Diệu, ta đã có cái nhìn rõ ràng hơn về cách thức hoạt động của các cung trong Chiêm tinh. Tuy Vô Chính Diệu mang đến sự bí ẩn và phức tạp, nhưng cũng là một phần quan trọng để hiểu rõ hơn về tính cách và số phận của chúng ta. Mong rằng bài viết đã mang đến cho bạn những kiến thức hữu ích và thú vị. Đừng quên ghé thăm website Viettel AIO để khám phá thêm nhiều thông tin hữu ích về Chiêm tinh nhé!

Bài viết liên quan: