Tiêu đề: Phong Thiên Tiểu Súc – Sức lan tỏa của đam mê và năng lượng

Nhập đề:

Xin chào các bạn yêu quý, hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau khám phá về một trong những quẻ quan trọng nhất trong Kinh Dịch – Phong Thiên Tiểu Súc (小畜 xiǎo chù). Quẻ này mang ý nghĩa về sự phát triển, sức sống, và khả năng lan tỏa của đam mê và năng lượng. Hãy cùng tôi tìm hiểu chi tiết về quẻ này nhé!

Từ khóa quan trọng:

  • Nội quái: ☰ (||| 乾 qian2) Càn/Tiên (天)
  • Ngoại quái: ☷ (:|| 巽 xun4) Tốn/Gió (風)

Giải nghĩa:

Phong Thiên Tiểu Súc đại diện cho sự trì hoãn và phản đối. Trong giai đoạn bế tắc, khi không đồng ý và cảm thấy thất vọng, quẻ này liên quan đến sự gầy gò, căng thẳng và chứa đựng mọi oán giận, ý kiến trái ngược, không đồng nhất và nhỏ bé. Tương tự như một cây đàn không điệu.

Qua cách giải thích quẻ này, ta có thể thấy sự kết hợp giữa quẻ Ti (為) và quẻ Tốn (頓), sự nuôi dưỡng và chứa chấp, như việc chứa chất hay kiềm chế.

Thoán từ:

小 畜 . 亨 . 密 雲 不 雨 . 自 我 西 郊 .

Diễn giải: Dù nhỏ bé nhưng vẫn thịnh vượng. Mây đen nhưng không mưa. Tự mình sống trong vùng quê.

Giảng:

Quẻ này có ba cách giải thích dựa trên hình ảnh của quẻ:

  • Giải thích thứ nhất là quẻ Càn (乾) ở dưới quẻ Tốn (巽), có nghĩa là âm (Tốn) ngăn cản được dương (Càn). Tức là một sức nhỏ có thể ngăn chặn được một sức lớn.
  • Giải thích thứ hai là gió (Tốn) bay trên trời (Càn) còn xa mặt đất, sức ngăn cản của nó còn nhỏ, cho nên gọi là Tiểu Súc.
  • Giải thích thứ ba là trong 5 hào, hào số 4 là âm nhu đắc vị và quan trọng nhất trong quẻ, có khả năng ngăn chặn được 5 hào dương. Như vậy, quẻ Tiểu Súc (nhỏ ngăn được lớn) được hình thành.

Hào từ:

  1. 初 九 : 復 自 道 , 何 其 咎 ? 吉 .

Sơ cửu: Trở về đúng đạo, có lỗi gì đâu? Tốt.

Giảng:

Hào 1, dương: Trở về đúng đạo của mình, không có lỗi gì. Tốt.

  1. 九 二 : 牽 復 , 吉 .

Cửu nhị: Dắt nhau trở về, tốt.

Giảng:

Hào 2, dương: Dẫn nhau trở về đúng đạo thì tốt.

  1. 九 三 : 輿 說 輻 , 夫 妻 反 目 .

Cửu tam: Xe rớt mất trục; vợ chồng hục hặc với nhau.

Giảng:

Hào 3, dương: Xe rớt mất trục, vợ chồng cãi nhau gay gắt.

  1. 六 四 : 有 孚 , 血 去, 惕 出 . 无 咎 .

Lục tứ: Nhờ có lòng chí thành, nên thương tích được lành, hết lo sợ, mà không có lỗi.

Hào 4, âm: Nhờ có lòng chí thành, nên thương tích được lành, hết lo sợ, mà không có lỗi.

Giảng: Hào này là âm, nhu thuận mà đối với các hào dương thì khó tránh được xung đột, có thể lưu huyết và lo sợ, nhưng nó đắc chính (âm ở ngôi âm), ở gần hào 5 là thân với bậc chí tôn, lại ở vào thời Tiểu súc, có hào 1 ứng hợp với nó, hào 2 cùng giúp nó, nên nó tránh được lưu huyết, lo sợ, không có lỗi.

  1. 九 五 : 有 孚, 攣 如 . 富 以 其 鄰 .

Cửu ngũ: Có lòng thành tín, ràng buộc dắt dìu (cả bầy hào dương ), nhiều tài đức , cảm hóa được láng giềng.

Hào 5, dương: Có lòng thành tín, ràng buộc dắt dìu (cả bầy hào dương ), nhiều tài đức , cảm hóa được láng giềng.

Giảng: Hào này ở ngôi chí tôn, có uy tín, làm lãnh tụ các hào dương khác; nó trung chính, tức có lòng thành tín, kéo các hào dương kia theo no, mà giúp đở hào âm 4 ở cạnh nó, ảnh hưởng tới 4, sai khiến được 4, khiến cho 4 làm được nhiệm vụ ở thời Tiểu súc.

  1. 上 九 : 既 雨, 既 處 , 尚 德 載 . 婦 貞 厲 . 月 幾 望 , 君 子 征 凶 .

Thượng cửu: Ký vũ, ký xử, thượng đức tái. Phụ trinh lệ. Nguyệt cơ vọng, quân tử chinh hung.

Hào trên cùng, dương: Đã mưa rồi, yên rồi, đức nhu tốn của 4 đã đầy (ngăn được đàn ông rồi), vợ mà cứ một mực (trinh) ngăn hoài chồng thì nguy (lệ) đấy. Trăng sắp đến đêm rằm (cực thịnh), người quân tử (không thận trọng, phòng bị) vội tiến hành thì xấu.

Giảng: Đây đã tới bước cuối cùng của quẻ tốn mà cũng là bước cuối cùng của quẻ Tiểu súc. Hào 4 đã thành công đến cực điểm , các hào dương hòa hợp với nó cả rồi, như đám mây kịt đã trút nước, mọi sự đã yên. Tới đó, hãy nên ngưng đi, cứ một mực ngăn chặn các hào dương thì sẽ bị họa đấy. Mà các hào dương (quân tử ) cũng nên lo đề phòng trước đi vì sắp tới lúc âm cực thịnh (trăng rằm) rồi đấy. Âm có nghĩa là tiểu nhân.


Việc đọc về quẻ Tiểu Súc này, chúng ta có thể nhớ đến hai vị quan tướng nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa là Võ Hậu đời Đường và Từ Hi Thái Hậu đời Thanh. Họ như hào 4, thông minh, có tài, nhưng ban đầu thuận khái niệm nhưng một khi ở gần hoàng đế (hào 5), được sự ưu ái và bảo bọc của vua, lại lấy được lòng người dưới (hào 1, hào 2), tạo ra phe phái liên tiếp “thống lĩnh quần dương”, cả triều đình phải mở to mắt nhìn họ. Khi họ đạt đến cực thịnh, sắp suy, các đại thần có khí tiết, mưu trí mới hợp nhau lật đổ họ. Tuy ngoài đời không chính xác như trong quẻ, nhưng cũng không khác mấy.

Ở những thời điểm đó, chắc nhiều nhà Nho Trung Hoa đọc lại quẻ này.