Thời bao cấp, hàng triệu người phải dồn tâm sức, trí lực vào việc xếp hàng và chen lấn để mua lương thực, thực phẩm, đồ dùng thiết yếu. Trong tình hình mà gạo, dầu, mắm, muối… đều cần phải có tem phiếu để mua, việc phân phối hàng hóa cho nhân dân trở thành công việc quyền lực của mậu dịch viên.

Nghề mơ ước

Bà Nguyễn Thị Ước (86 tuổi, quận Tây Hồ, Hà Nội) từng là một mậu dịch viên và cho biết người làm nghề này chủ yếu là con em trong ngành thương nghiệp. Họ được đào tạo hai năm ở lớp sơ cấp mậu dịch để nắm vững về các loại hàng hóa, cân trọng lượng, nhập kho và cách phục vụ khách hàng. Sau đó, họ mới được phân công vào cửa hàng để bán hàng. Tùy theo loại hàng hóa mà có mậu dịch viên lương thực, mậu dịch viên thực phẩm, mậu dịch viên bách hóa…

Cán bộ cao cấp và công chức nhà nước có tiêu chuẩn tem phiếu cao hơn người dân, thường được phục vụ ở các cửa hàng trên phố Tông Đản, Nhà Thờ, Vân Hồ… Trong khi đó, người dân phải tìm mua hàng rải rác trong thành phố. “Mậu dịch viên phục vụ cán bộ thái độ thường nhẹ nhàng hơn những người làm việc ở cửa hàng dành cho nhân dân”, bà Ước chia sẻ.

Đến thời điểm có tem phiếu, bà Phạm Thị Minh Tâm (62 tuổi, quận Hoàn Kiếm) từng làm việc tại cửa hàng lương thực 168 Lò Đúc và là một mậu dịch viên. Mặc dù công việc của cô được xem là “hot” nhưng không dễ dàng như nhiều người tưởng. Cô làm việc từ 6h sáng đến 12h trưa, sau đó phải quyết toán tiền hàng và cộng sổ sách cho đến 2h chiều mới được về.

Ngày nào khi gạo cũng về cảng Phà Đen (cảng Hà Nội ngày nay), mậu dịch viên phải đi nhận gạo và bốc lên xe. Nếu thiếu công nhân, họ không chỉ kiểm hàng mà còn phải giữ an ninh để tránh trộm cắp. “Thời đó, các tên trộm rất tài tình, họ dùng xiên nhôm đâm thủng bao bì để rút ruột hàng chục cân. Một bao gạo được đóng gói chuẩn một tạ, khi về đến cửa hàng chỉ còn 70 kg”, bà kể lại.

Các cửa hàng luôn khan hiếm hàng hóa, người dân mải mê chờ đợi suốt cả ngày để cố gắng mua hàng đầu tiên. Dù chen lấn, xô đẩy và đổ mồ hôi, nhưng khi đến lượt, mậu dịch viên chỉ cần nói “Hết hàng” là tiu nghỉu ra về. Để mua hàng nhanh, người dân phải quen biết cửa hàng trưởng hoặc mậu dịch viên. Những gia đình có con gái làm nghề này thường được nhờ vả nhiều hơn.

Theo bà Tâm, những người trong ngành thường ưu tiên cho nhau được mua hàng đẹp và hàng ngon. Ví dụ, miếng thịt lợn được cắt nửa nạc kết hợp với nửa mỡ khi bán ra. Nhưng nếu quen biết mậu dịch viên thực phẩm, người đó sẽ được ăn thịt ngon để dành. “Lúc này, tôi đưa tem phiếu nhờ mậu dịch viên bách hóa để được một miếng lụa đen để may quần, sau đó tôi phục vụ cho nhà họ được gạo ngon”, bà chia sẻ.

Theo chia sẻ của phó giáo sư Văn Như Cương, khi ông chuyển từ Yết Kiêu (Hoàn Kiếm) về Yên Hòa (Cầu Giấy), ông nuôi một đàn chó nhỏ. Bà hàng xóm thấy thích quá nên nhờ ông bán cho một con chó. Tuy nhiên, ông không bán mà tặng đi và sau đó ông cũng quên luôn việc này. Một hôm, ông đang xếp hàng mua rau thì nghe một tiếng chào đón đả, và khi nhìn lên ông mới nhận ra rằng người phụ nữ ông đã tặng chú chó kia là một mậu dịch viên bán rau.

Từ đó, mỗi chiều khi ông Cương đi dạy về, ông lại dừng xe trước cửa hàng mậu dịch để nhận một bó rau muống to mang về nhà. Rau mậu dịch có vẻ già hơn rau chợ, nhưng chỉ cần hái vài ngọn cũng đủ cho cả nhà. “Ngày nào cũng ăn rau muống, không luộc thì xào. Cả xóm ngạc nhiên lắm, họ hỏi lương ông bao nhiêu mà ông cứ hôm nào cũng ăn rau muống?”, ông chia sẻ.

Trong mắt nhiều người, mậu dịch viên thời bao cấp thường được coi là “rất ghê gớm” và có quyền “thét ra lửa”. Nhà văn Ngô Minh Khôi kể, ở Huế có ông Phó chủ tịch ngày chủ nhật ra cửa hàng chất đốt để mua củi thay vợ. Thấy người xếp hàng đông, ông dùng thẻ chủ tịch để mua củi trước và bảo mậu dịch viên “Anh là Phó chủ tịch, bán cho anh trước để còn đi công tác”. Cô mậu dịch viên ngẩng lên, nhìn ông rồi cười nhạt “Không trưởng phó chi hết, xếp hàng”. Vậy là ông Phó chủ tịch phải giấu thân và đợi đến trưa mới được nhận củi.

Ông Ngô Minh Khôi cũng có kỷ niệm khi xin giấy tờ mua hàng tiêu chuẩn 8 kg gạo và vải khi vợ sinh con thứ hai. Ông phải chạy khắp nơi trong mấy ngày mới xin được giấy chứng sinh ở bệnh viện và giấy giới thiệu từ cơ quan vợ làm việc gửi cho Phòng lương thực thành phố để duyệt. Khi ông mang theo giấy giới thiệu từ cơ quan vợ đến cửa hàng lương thực Bến Ngự (đường Phan Bội Châu, TP Huế) để mua hàng, bà chủ cửa hàng liếc tờ giấy và nói “Giấy này không ghi gửi cửa hàng mà ghi gửi Phòng lương thực thành phố Huế. Sai địa chỉ, không bán” và bắt ông phải quay lại làm lại giấy tờ.

Ông nổi nóng và không thích phải xin xỏ, vì vậy ông quát một câu “Phòng lương thực là bố đẻ của cửa hàng, bà cứ bắt bẻ vô lý thế, tôi đâu cần” rồi vò hết mớ giấy tờ và ném vào mặt bà chủ cửa hàng. Sau đó, ông về nhà trước sự ngạc nhiên của nhiều người dân khác đang xếp hàng. “Về đến nhà, vợ biết chuyện chỉ khóc, bảo anh làm vậy thì con đói. Nhớ lại thì mình cũng tiếc đứt ruột 8 kg gạo nhưng không chịu nổi thái độ hách dịch đó”, ông chia sẻ.

Không có đối thủ “tình trường”

“Những năm ấy, ngành thương nghiệp đứng đầu nên con gái mậu dịch viên rất được mến mộ, trong tình trường không có đối thủ”, bà Nguyễn Ngọc Thủy (58 tuổi) cho biết. Bà từng là một mậu dịch viên bán xăng dầu ở phố Nguyễn Công Trứ (quận Hai Bà Trưng) và nhớ lại câu nói truyền miệng của trai gái thủ đô thời bấy giờ.

Mậu dịch viên lương thực và thực phẩm được xem là “quý cô” nhất. Hầu hết bạn bè của bà Thủy lấy chồng đều là nhờ giới thiệu từ người làm trong ngành này, và có cô bạn cùng lúc được nhiều chàng trai theo đuổi. Bà Thủy đã lấy chồng khi mới 21 tuổi, thông qua việc mai mối của hai bà mẹ làm cùng công ty may mặc.

Bà Thủy chia sẻ, nhớ lại thời gian đó, ông Nguyễn Xuân Lâm (phường Hàng Bồ, Hoàn Kiếm) nói rằng có rất nhiều “hot boy” ở Hà Nội, nhưng chỉ có mậu dịch viên làm mưa làm gió. Các cô gái trong ngành này trở thành những người yêu lý tưởng, được nhiều chàng trai theo đuổi, có con của gia đình giàu có hoặc con của các cán bộ. Dù có cô nào không đẹp nhưng vẫn bị “nhòm ngó” suốt ngày. Những gia đình có con gái làm nghề này thường được nhiều sự quan tâm và nhờ vả hơn.

Sau năm 1986, khi nhà nước bắt đầu loại bỏ bao cấp và tem phiếu, các cửa hàng mậu dịch quốc doanh thì đã bị chuyển đổi hoặc tự kinh doanh. Một số mậu dịch viên tiếp tục công việc, trong khi những người khác đã nghỉ hưu. Nhờ kinh nghiệm buôn bán và kỹ năng tháo vát, nhiều người đã chuyển sang kinh doanh và cuộc sống vẫn khá ổn định.

Bà Tâm cho biết, vào thập kỷ 1990, cuộc sống dễ thở hơn nhiều, người dân được ăn no cơm trắng mà không cần phải xếp hàng tranh nhau mua gạo từ mậu dịch viên nữa. Nhưng những ký ức từ thời bao cấp khiến nhiều người vẫn giữ lại sổ gạo như một biểu tượng của thời đại tem phiếu. Riêng bà Tâm, cô giữ lại chiếc áo đồng phục mậu dịch viên hàng chục năm như một món kỷ niệm để nhớ công việc đã vang bóng trong quá khứ.


Đọc thêm: Viettel AIO