TÓM TẮT
Mô tả
Loài rùa nhỏ, có vỏ đỏ nhiều phiến sừng hay vảy cứng ghép lại, bao gồm tấm giáp lưng dày và lồi gọi là mu hay mai, cùng với tấm giáp bụng phẳng là yếm. Rùa có đầu tròn, trơn nhẵn, cổ dài linh động có thể rụt vào trong mai. Bốn chân của rùa to và hình trụ, có móng, chân trước ngắn hơn chân sau. Rùa núi có màu vàng nâu, đen sẫm hơn ở giữa mỗi phiến sừng. Rùa đực thường nhỏ hơn rùa cái. Loài rùa nước (thuỷ quy – Clemmys mutica Cantor) cũng được sử dụng.
Phân bố, sinh thái
Rùa núi phân bố ở các nước Châu Á. Ở Việt Nam, rùa núi sống hoang ở vùng núi, chỗ ẩm thấp trong rừng, bờ sông rạch. Vào mùa khô, rùa núi ẩn nấp trong bụi và chỉ hoạt động kiếm ăn vào mùa mưa. Thức ăn của rùa núi là động vật không xương sống, cá, sâu bọ, cỏ và quả rừng. Rùa núi đẻ trứng trên cạn, vùi vào cát. Rùa núi được thu bắt quanh năm, nhưng nhiều nhất vào tháng 8-12.
Bộ phận dùng
Yếm rùa, còn được gọi là quy bản hay quy giáp, là một bộ phận của rùa được sử dụng trong y học cổ truyền. Máu và tinh trùng của rùa cũng được sử dụng.
Cách thu hoạch và chế biến yểm rùa núi
Rùa được bắt về, đập chết, bóc lấy yếm, cạo hết thịt, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô, được hút huyết. Một cách khác, rùa cũng có thể được đặt vào nước sôi để chết rồi mới bóc yếm. Yểm rùa có dạng phiến do nhiều mảnh nhỏ ghép lại, hình bầu dục, mép hơi cong lên, một đầu thuôn hẹp có khuyết lõm vào. Ngoài trông có màu nâu xám sẫm, mặt trong màu vàng nhạt, chất cứng chắc, dễ gãy ở những đường nối ghép. Yểm rùa tốt là yếu tố trơn bóng, không có vết da bị lóc. Còn yểm rùa thang bản màu sẫm hơn và có vết da bị lóc.
Khi dùng, yêm rùa được đập vỡ thành mảnh nhỏ, rồi tẩm giấm, nướng vàng hoặc rang với cát nóng cho vàng, sau đó tán bột. Yếm rùa cũng có thể chế biến thành cao để sử dụng tốt hơn. Cách làm là ngâm yếm rùa vào nước, đun sôi trong vài giờ, sau đó cạo sạch gân và thịt còn sót lại. Tẩy bằng rượu. Đập thành mảnh nhỏ, nấu với nước 3 lần, mỗi lần một ngày, một đêm. Lọc bỏ bã. Nước lọc được cô thành cao đặc, sau đó đổ vào khuôn.
Có khi người ta cùng nấu yếm rùa với gạc hươu nai để tạo ra quy lộc nhị tiên cao hoặc với mai ba ba để được nhị giáp cao. Thậm chí có thể phối hợp với nhiều vị thuốc có nguồn gốc từ thực vật khác.
Thành phần hoá học
Trong yếm rùa có chất béo, chất keo và muối Canxi. Mai rùa chứa nhiều acid amin.
Tính vị, công năng
Theo các tài liệu cổ, yếm rùa có vị ngọt, mặn, tính bình và có tác dụng vào 4 kinh thận, tâm, can và tỳ, bồi dưỡng cơ thể, ích khí, mạnh gân xương và giảm đau. Máu rùa có vị mặn, tính hàn, không độc và có tác dụng bổ, tăng sức.
Công dụng
Từ ngàn xưa, con người đã lấy rùa làm biểu tượng cho tuổi thọ, trí tuệ và sự may mắn.
-
Yếm rùa: Chữa suy nhược, lao lực quá độ, mỏi mệt, nóng trong, sốt rét, ho lâu ngày, thận kém, chân tay đau nhức, trẻ em yếu xương, chậm lớn, chậm biết đi. Ngày uống 5 – 10g chia làm 2 – 3 lần dưới dạng thuốc bột hay thuốc sắc. Đối với cao quy bản, khi dùng mới cắt thành những miếng nhỏ, ăn với cháo hoặc mật ong, mỗi ngày 10 – 20g chia làm 3 lần. Dùng liền một tháng. Quy lộc nhị tiên cao lại được ngâm rượu và mật ong, uống mỗi ngày vài chén là thuốc đại bổ tinh tuỷ, ích khí dưỡng thần. Nhị giáp cao hoà loãng trong nước cơm hâm nóng với liều 6 – 10g trị thiếu máu, háo khát. Người có máu hàn, hay bị tiêu lỏng, không nên dùng yếm rùa.
-
Tinh trùng rùa: Chữa điếc tai. Để lấy tinh trùng, ta đè nặng lên mu con rùa đực, đặt một cái gương trước mặt. Rùa đực tưởng trước mặt là rùa cái nên xuất tinh. Hứng lấy, nhỏ vào tai, ngày vài lần.
-
Máu rùa: Chữa khó thở trong bệnh tim mạch. Máu rùa pha với rượu theo tỷ lệ 2 phần máu và một phần rượu. Uống ngày 2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ.
Theo tài liệu nước ngoài, máu rùa là một vị thuốc đại bổ, làm tăng sức lực và sự dẻo dai của cơ thể một cách đáng kinh ngạc. Một số chuyên gia cảm nhận được những lợi ích vượt trội từ việc uống tiết rùa tươi đối với các vận động viên nữ Trung Quốc, giúp họ đạt được nhiều thành tích xuất sắc trong các cuộc thi thể thao thế giới. Ngoài ra, ở thành phố Bénares (Ấn Độ), người ta đã sử dụng rùa để làm sạch môi trường và giải quyết tình trạng ô nhiễm nặng nề của sông Hằng mà hàng năm gây ra nhiều tai hoạ.
Bài thuốc có rùa núi
Dùng ở Việt Nam
-
Chữa mụn rò, chảy nước và mủ, lòi dom: Mai rùa, mai ba ba, phèn chua (liều lượng bằng nhau) đốt tồn tính, tán nhỏ, rây mịn, rắc vào chỗ đau (Nam dược thần hiệu).
-
Chữa thận hư, di tinh, băng huyết, khí hư, ho, lưng gối đau mỏi, kiết lỵ, sốt rét lâu ngày: Yếm rùa (20g), rễ cây trung quân (20g), vỏ cây đỗ trọng nam (30g), rễ nhàu (20g), sàm Bố Chính (20g). Tất cả thái nhỏ, sao vàng, ngâm rượu uống. Mỗi ngày 1-2 chén nhỏ.
-
Chữa ho lâu ngày: Yếm rùa và đảng sâm (lượng bằng nhau) tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 – 20g.
-
Chữa di mộng tinh: Cao quy bản (10g), thục địa (16g), hoài sơn (12g), phá cố chỉ (8g, sao với rượu), thỏ ty tử (8g, sao), rau má (8g), vỏ rễ cây đơn đỏ (6g, sao), khiếm thực (6g, sao). Cao quy bản hơi nóng cho chảy, thục địa giã nhuyễn. Các dược liệu khác phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn đều với cao quy bản và thục địa, rồi cho mật ong vừa đủ để làm viên 2g. Mỗi ngày uống 10 viên, chia làm 2 lần.
Dùng ở Trung Quốc
-
Chữa mất ngủ: Thịt rùa (250g), táo tàu (10 quả), bách hợp (30g). Thái nhỏ, ninh nhừ. Ăn cả nước lẫn thịt.
-
Chữa suy nhược ở trẻ em, thóp chậm cứng lại: Mai rùa (15g), đảng sâm (15g), cốt toái bổ (15g). Sắc lấy nước để uống trong ngày.
-
Thuốc giảm mỡ, cholesterol trong máu, phòng u bướu: Thịt rùa (300g), nấm linh chi (30g), táo tầu (10 quả). Tất cả ninh nhừ với các gia vị, ăn cả cái lẫn nước.
-
Thuốc bổ, hạ huyết áp: Thịt rùa (200g), ngưu tất (12g). Hai vị thái nhỏ, hầm nhừ, thêm gừng (5g), hành (10g), muối (5g). Ăn trong ngày.
Ghi chú: Rùa núi là loài đang bị săn bắt nhiều, số lượng trong tự nhiên giảm đi đáng kể. Chỉ trong một tháng cuối năm 1995, hơn 3000 con rùa núi đã được thu hồi và trả lại tự nhiên. Hiện nó đã được ghi vào Sách Đỏ quốc gia để bảo vệ.
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương – Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh


Bài viết liên quan: