Sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, văn bản pháp luật về trẻ em đầu tiên được ban hành là Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 14/11/1979. Đến năm 1991 thì thay thế bằng Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và sau đó được sửa đổi thành Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Nội dung bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Luật xoay quanh các quyền cơ bản của trẻ em; tạo khung pháp lý cho việc nâng cao một bước chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong bối cảnh đất nước đổi mới, đồng thời thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC) thông qua ngày 20/11/1989, Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước vào ngày 20/2/1990.
TÓM TẮT
Những thành tựu và thay đổi
Sau 10 năm thực hiện Luật năm 2004, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế – xã hội của đất nước ta đã có nhiều thay đổi, trong thực tế đã xuất hiện nhiều yếu tố tác động tiêu cực đến việc thực hiện Luật và công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Trong khi đó, trình độ nhận thức của Nhân dân, của trẻ em về quyền con người, quyền trẻ em đã nâng cao. Mức độ phổ biến về nhận thức và về việc thực hiện các quyền của trẻ em trong cuộc sống ngày càng tăng. Không những bản thân trẻ em sử dụng quyền của mình mà xã hội sử dụng các quy định pháp luật để bảo vệ trẻ em ngày càng tích cực. Qua tổng kết, đánh giá 10 năm thực hiện Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm, còn có một số bất cập như: Quy định tuổi của trẻ em chưa phù hợp với CRC và chưa hội nhập quốc tế; chưa bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam; nhiều quyền trẻ em được quy định trong CRC chưa được Luật 2004 quy định; nhiều quy định của Luật còn chung chung, thiếu sự phân công rõ ràng, thiếu sự phối hợp… nên cần phải sửa đổi, bổ sung Luật này.
Ngày 05/4/2016 Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 11 đã thông qua Luật Trẻ em và Luật này có hiệu lực vào đúng ngày Quốc tế Thiếu nhi 01/6/2016. Luật Trẻ em năm 2016 gồm 7 chương, 106 điều, bao gồm Chương I. Những quy định chung (từ điều 1 đến điều 11); Chương II. Quyền và bổn phận của trẻ em (từ điều 12 đến điều 41), Chương III. Chăm sóc và giáo dục trẻ em (từ điều 42 đến điều 46); Chương IV. Bảo vệ trẻ em (từ điều 47 đến điều 73); Chương V. Trẻ em tham gia vào các vấn đề về trẻ em (từ điều 74 đến điều 78); Chương VI. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em (từ điều 79 đến điều 102); Chương VII. Điều khoản thi hành (từ điều 103 đến điều 106).
Đây là những nội dung cơ bản của Luật trẻ em năm 2016:
-
Tên gọi: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được đổi thành Luật Trẻ em để phản ánh đầy đủ hơn nội dung và phạm vi của Luật.
-
Khái niệm và quyền trẻ em: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” bao gồm cả trẻ em là công dân Việt Nam và trẻ em là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. Luật Trẻ em quy định rõ các khái niệm về phát triển toàn diện, chăm sóc thay thế, xâm hại trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em, giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em.
-
Quyền và bổn phận của trẻ em: Luật Trẻ em quy định 25 nhóm quyền của trẻ em, bao gồm quyền sống, quyền bí mật đời sống riêng tư, quyền được sống chung với cha mẹ, quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi, quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục, không bị bóc lột sức lao động, không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc, không bị mua, bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạn, quyền được đảm bảo an sinh xã hội, quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội, quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn.
-
Chính sách nhà nước: Luật Trẻ em quy định các chính sách của Nhà nước để bảo đảm chăm sóc, giáo dục, vui chơi, giải trí, du lịch, và thông tin, truyền thông cho trẻ em.
-
Bảo vệ trẻ em: Luật Trẻ em quy định tổng quát về cấp độ bảo vệ trẻ em và trách nhiệm thực hiện; cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; các biện pháp bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng.
-
Trẻ em tham gia vào các vấn đề về trẻ em: Luật Trẻ em quy định việc trẻ em tham gia vào các vấn đề về trẻ em và có biện pháp bảo đảm trong gia đình, nhà trường, cơ sở giáo dục, và cộng đồng.
-
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân: Luật Trẻ em quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân và cơ sở giáo dục trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em.
Luật Trẻ em là một bước tiến lớn trong việc bảo vệ quyền và bổn phận của trẻ em. Đây không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là của toàn xã hội. Với hi vọng tạo ra một môi trường phát triển toàn diện cho trẻ em, Viettel AIO cam kết đồng hành cùng các chính sách và quy định của Luật Trẻ em để xây dựng một tương lai tươi sáng cho thế hệ trẻ Việt Nam.
Đọc thêm về Viettel AIO để hiểu hơn về sứ mệnh và đóng góp của chúng tôi trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.




Bài viết liên quan: