Vào thời đại Hùng Vương, trong cuốn sách Đại Việt sử ký toàn thư, có một phần được đặt tên là Kỷ Hồng Bàng thị, đề cập tới ba tiểu mục là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương. Nhưng các nhà nghiên cứu đã đặt ra nghi vấn về việc 18 đời vua Hùng trị vì suốt 2.622 năm, và trong trung bình, mỗi vị vua chỉ trị vì 150 năm. Điều này đã gây tranh cãi trong cộng đồng lịch sử và học thuật.

Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của cụ Biệt Lam Trần Huy Bá về Hùng Vương và cuốn “Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyện” của Nguyễn Như Đỗ, sống thời nhà Lê, đã mang đến một cái nhìn mới về vấn đề này. Theo họ, từ “đời” vua thường được hiểu là “thế” trong Hán tự, có nghĩa là không chỉ một đời người mà là “một dòng gồm nhiều đời” hay “chi”. “Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyện” cho biết thời đại Hùng Vương kéo dài 2.622 năm qua 47 đời vua trị vì, với 18 chi, mỗi chi qua mấy đời vua. Và chi đầu tiên được ghi là Kinh Dương Vương.

Ví dụ, chi Hùng Vương thứ 18, chi cuối cùng của thời đại Hùng Vương, đã có 3 đời vua trị vì trong vòng 150 năm. Hiện nay, tại Đình Tây Đằng, huyện Ba Vì, tỉnh Vĩnh Phú, vẫn còn bài vị “Tam Vị Quốc Chúa”, thờ 3 vị vua cuối cùng thuộc chi Hùng Vương thứ 18 này. Chi này chấm dứt vào năm 258 TCN, tức là vào cuối đời nhà Chu bên Trung Quốc.

18 chi được sắp theo bát quái (8 quái): Càn (trời) (☰), Đoài (đầm) (☱), Ly (hỏa) (☲), Chấn (sấm) (☳), Tốn (gió) (☴), Khảm (nước) (☵), Cấn (núi) (☶), Khôn (đất) (☷) và 10 thiên can Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

18 chi thời Vua Hùng theo “Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyện” lần lượt là:

Chi Càn: Kinh Dương Vương

Chi Khảm: Lạc Long Quân

Chi Cấn: Hùng Quốc Vương

Chi Chấn: Hùng Hoa Vương

Chi Tốn: Hùng Hi Vương

Chi Ly: Hùng Hồn Vương

Chi Khôn: Hùng Chiêu Vương

Chi Đoài: Hùng Vĩ Vương

Chi Giáp: Hùng Định Vương

Chi Ất: Hùng Uy Vương

Chi Bính: Hùng Trinh Vương

Chi Đinh: Hùng Vũ Vương

Chi Mậu: Hùng Việt Vương

Chi Kỷ: Hùng Anh Vương

Chi Canh: Hùng Triệu Vương

Chi Tân: Hùng Tạo Vương

Chi Nhâm: Hùng Nghi Vương

Chi Quý: Hùng Duệ Vương

Sách “Đoàn tộc phả ký” của họ Đoàn ở Chạ Mắt, thôn Tu Trình, xã Thụy Hồng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, có ghi lại lịch sử của dòng họ này. Từ đó, ta biết rằng họ Đoàn xuất phát từ Sơn Vi Nghĩa Lĩnh, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam. Họ Đoàn đã cống hiến cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam từ thời Hùng Vương.

Đất Sơn Vi Nghĩa Lĩnh có nhiều di chỉ khảo cổ, là trung tâm văn hóa của người Lạc Việt từ thời Nguyên thủy, thời Hùng Vương. Núi Hùng ở Sơn Vi Nghĩa Lĩnh là đầu Rồng, cao 175 mét so với mặt nước biển. Từ núi Hùng, có thể nhìn rõ các hướng. Phía trước núi Hùng là ngã 3 Việt Trì, nơi tạo thành một kết hợp tự nhiên của 3 dòng sông lớn: sông Thao Giang, sông Lô Giang và sông Đà Giang, cùng với những dòng sông nhỏ như Rồng ngũ sắc. Xung quanh núi Hùng còn có hàng chục đồi nhô lên như đàn Rùa bò, kèm theo đó là các địa danh đẹp như Hy Sơn, An Thái, Khang Phụ. Làng cổ Tích ở chân núi Hùng cũng là một điểm đến hấp dẫn.

Theo Ngọc phả thần tính đền Bình Ngô, vua Kinh Dương Vương, vua Lạc Long Quân và vua Hùng Quốc Vương được thờ tại đền Bình Ngô, thì có tổng cộng 118 vị vua của 18 triều đại Hùng Vương trị vì nước Văn Lang trong khoảng thời gian 2.622 năm, từ năm Nhâm Tuất 2879 TCN đến năm Giáp Thìn 257 TCN. Các vua Hùng đã chọn con em tài đức phong làm Lạc tướng, đứng đầu 15 bộ của nước Văn Lang, và lập dòng họ ở đó.

Sách “Đoàn tộc phả ký” của họ Đoàn ở Chạ Mắt đã ghi lại rõ ràng về nguồn gốc và sự định cư lâu dài của dòng họ tại Sơn Vi Nghĩa Lĩnh, và sau đó, có nhiều thành viên của họ đã chuyển cư đến nhiều nơi trên lãnh thổ của người Lạc Việt, Bách Việt.

Đất Sơn Vi Nghĩa Lĩnh không chỉ có những di tích văn hóa từ thời Hùng Vương, mà còn có núi Hùng và các địa danh đẹp như Hy Sơn, An Thái, Khang Phụ. Cộng đồng người họ Đoàn cũng đã có nhiều đóng góp tích cực trong quá trình lịch sử của Việt Nam, từ khi dựng nước Ban ở Sơn Vi Nghĩa Lĩnh cho tới ngày nay.