Thành phần loài động vật phù du vịnh Đà Nẵng – 28/12/2023
Tóm tắt
Tại vùng biển Vịnh Đà Nẵng, đã xác định được tổng cộng 53 loài động vật phù du thuộc 31 chi, 24 họ, 10 bộ, 7 lớp và 4 ngành. Trong số đó, ngành Chân khớp (Athropoda) có số loài nhiều nhất với 46 loài, chiếm tỷ lệ 86,79%. Tiếp đến là ngành Hàm tơ (Chaetonatha) với 4 loài chiếm tỷ lệ 7,55%, ngành Thân mềm (Mollusca) với 2 loài chiếm tỷ lệ 3,77%, và ngành Giun đốt (Annelida) có 1 loài chiếm tỷ lệ 1,89%.
Về phân bố, trung bình mỗi trạm xuất hiện hơn 36 loài động vật phù du. Trạm mẫu ĐVPD 185 có số loài nhiều nhất là 53 loài, tiếp đến là trạm ĐVPD 182 với 52 loài. Trạm ĐVPD 188 có 51 loài, trong khi trạm ĐVPD 24 có số loài thấp nhất là 21 loài.
Đối với tần suất xuất hiện, loài Evadne nordmani (Loven, 1836) có tần suất xuất hiện cao nhất là 216/250, tiếp đến là loài Conchoecia imbricata (Brady, 1880) với tần suất xuất hiện là 214/250. Loài Sagitta minima (Grassi, 1881) có tần suất xuất hiện thấp nhất là 66/250, trong khi loài Sagitta neglecta (Aida, 1897) có tần suất xuất hiện là 85/250. Trung bình, tần suất xuất hiện là 172/250.
Kết quả tính toán chỉ số đa dạng sinh học cho thấy khu vực này có mức độ đa dạng sinh học thấp, thành phần loài kém đa dạng, phong phú với chỉ số H’ là 1,9.
Từ khóa: Động vật phù du, đa dạng sinh học, vịnh Đà Nẵng.
1. Mở đầu
Động vật phù du (ĐVPD) là những động vật sống trôi nổi và có khả năng bơi kém, có kích thước nhỏ, đơn bào hoặc đa bào với kích thước từ vài micron đến vài centimet. ĐVPD được xem là nhóm động vật quan trọng trong đa dạng sinh học động vật ở hệ sinh thái biển. Chúng gồm hầu hết các nhóm động vật ở mọi bậc phân loại và tồn tại ở hầu hết môi trường sống trong nước, bao gồm cả sinh vật sống toàn bộ vòng đời trong nước, và sinh vật chỉ có một giai đoạn nào đó trong vòng đời sống trôi nổi trong nước. ĐVPD có vai trò quan trọng trong vận chuyển năng lượng từ sinh vật sản xuất (như tảo, rong biển) đến các sinh vật tiêu thụ cao hơn trong hệ sinh thái biển. Đó cũng là nguồn thức ăn cho cá non trong giai đoạn sinh sản và phát triển [1].
Vịnh Đà Nẵng là một khu vực biển đặc biệt, được bao bọc bởi hai dãy núi Hải Vân và Sơn Trà. Vùng biển này có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế như nuôi trồng, đánh bắt hải sản, du lịch và dịch vụ. Tuy nhiên, các hoạt động này cũng gây ra ô nhiễm môi trường nước và suy thoái tài nguyên trong vịnh [6] [7]. Do đó, nghiên cứu về sinh vật biển và đa dạng sinh học ở vịnh Đà Nẵng là rất quan trọng để hiểu và bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên của vùng biển này.
2. Thành phần loài và phương pháp nghiên cứu
Tại vùng biển vịnh Đà Nẵng, đã xác định tổng cộng 53 loài động vật phù du thuộc 31 chi, 24 họ, 10 bộ, 7 lớp và 4 ngành [11]. Trạm mẫu ĐVPD 185 có số loài nhiều nhất là 53 loài, tiếp đến là trạm ĐVPD 182 với 52 loài. Số loài thấp nhất là tại trạm mẫu ĐVPD 24 với 21 loài.
3. Kết quả và thảo luận
Về phân bố, trung bình mỗi trạm xuất hiện hơn 36 loài động vật phù du. Loài có tần suất xuất hiện cao nhất là Evadne nordmani (Loven, 1836) với tần suất 216/250, tiếp đến là Conchoecia imbricata (Brady, 1880) với tần suất 214/250. Trung bình, tần suất xuất hiện là 172/250.
Kết quả tính toán chỉ số đa dạng sinh học cho thấy khu vực này có mức độ đa dạng sinh học thấp, thành phần loài kém đa dạng, phong phú với chỉ số H’ là 1.9.
4. Kết luận
Tại vịnh Đà Nẵng, đã xác định tổng cộng 53 loài động vật phù du thuộc 31 chi, 24 họ, 10 bộ, 7 lớp và 4 ngành. Trung bình, mỗi trạm nghiên cứu xuất hiện hơn 36 loài động vật phù du. Tuy nhiên, khu vực này có mức độ đa dạng sinh học thấp, với chỉ số H’ là 1.9.
Để bảo vệ và tăng cường tính đa dạng sinh học, cần áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên trong vịnh Đà Nẵng. Cần nâng cao nhận thức và tuyên truyền về sự quan trọng của đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản trong vịnh Đà Nẵng.
Cam đoan: Bài báo này là công trình nghiên cứu của tác giả, không được sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu nào khác.
Mai Kiên Định, Nguyễn Hải Anh, Nguyễn Hoàng Anh, Dư Văn Toàn
Viện Khoa học Môi trường, Biển và Hải đảo



Bài viết liên quan: