Đàn tranh là một nhạc cụ quan trọng trong âm nhạc dân gian Việt Nam, có nguồn gốc từ Trung Quốc. Với sự phát triển từ thời nhà Trần, đàn tranh đã được cải tiến về chất liệu, thiết kế và kĩ thuật chơi để phù hợp với văn hóa dân gian của dân tộc Việt. Có hai dòng đàn tranh phổ biến là đàn tranh Trung Quốc và đàn tranh Việt Nam, mỗi dòng đàn có nhiều loại với số lượng dây khác nhau.
TÓM TẮT
Các loại đàn tranh phổ biến nhất
Đàn tranh Việt Nam có một số loại phổ biến như sau:
- Loại 16 dây, có chiều dài từ 110 đến 120cm.
- Loại 17 dây
- Loại 19 dây
- Loại 21 dây
- Loại 22 dây
Các loại đàn tranh Trung Quốc cũng có:
- Loại 21 dây, có chiều dài khoảng 1m63
- Loại 23 dây
- Loại 25 dây
Thiết kế của đàn tranh Việt Nam
Đàn tranh Việt Nam thường có 16 dây, nhưng cũng có các phiên bản với 17 hoặc 19 dây. Khung đàn tranh có hình dạng chữ nhật, dài từ 110 đến 120cm. Đầu đàn có kích thước lớn từ 25 đến 30cm, đầu nhỏ từ 15 đến 20cm, có từ 16 đến 25 khóa dây chéo qua mặt đàn. Mặt đàn được uống hình vòm và làm bằng gỗ ngô đồng dày khoảng 0,05cm. Ngựa đàn, hay còn gọi là con nhạn, nằm ở giữa thân đàn và dùng để gác dây. Con nhạn có thể di chuyển để điều chỉnh âm thanh. Dây đàn được chế tạo từ các vật liệu như dây tơ, kim loại, có nhiều kích cỡ khác nhau.
Khi chơi đàn, người chơi thường đeo 3 móng gẩy vào 3 ngón cái, trỏ và giữa của tay phải để gẩy. Móng gẩy thường được làm bằng kim loại, đồi mồi hoặc sừng.
Âm sắc của đàn tranh
Âm thanh của đàn tranh thường rất trong trẻo, sáng sủa, phù hợp với những điệu nhạc vui tươi, nhưng cũng có thể mang lại cảm giác u buồn và hùng tráng. Do đàn tranh được làm từ kim loại mỏng, tơ tằm, nylon hoặc polyeste, nên tiếng của đàn tranh không thích hợp cho âm nhạc mạnh mẽ và trầm hùng. Dải âm thanh của đàn tranh rộng, từ Sol 1 lên Sol 3 hoặc từ Đô 1 lên Đô 3, phụ thuộc vào cách lên dây đàn. Đàn tranh được sử dụng trong nhiều loại âm nhạc, như độc tấu, hòa tấu và đệm cho người hát, và là một phần quan trọng trong dàn nhạc dân ca.
Hệ thống dây đàn tranh các loại
Tùy vào số lượng dây trên đàn tranh, hệ thống dây cũng sẽ khác nhau. Hiện nay, đàn tranh 17 dây đang trở nên phổ biến, hệ thống dây của nó được gọi như sau:
- 5 dây mang số lần lượt 2, 3, 4, 5, 6 tạo thành bát độ thấp nhất.
- 5 dây mang số lần lượt 7, 8, 9, 10, 11 tạo thành bát độ trung bình.
- 5 dây mang số lần lượt 12, 13, 14, 15, 16 tạo thành bát độ cao.
- Dây số 17 là cung đầu tiên của bát độ kế tiếp.
Tên gọi của 5 dây trên đàn tranh cũng được xác định như sau:
- Bát độ thấp nhất gồm: 2 – Hò, 3 – Xự, 4 – Xang, 5 – Xê, 6 – Cống
- Bát độ trung bình gồm: 7 – Liêu, 8 – Xự, 9 – Xang, 10 – Xê, 11 – Cống
- Bát độ cao gồm: 12 – Liu, 13 – Ú, 14 – Xang, 15 – Xê, 16 – Cống
- Dây số 17 là dây Liu của bát độ kế tiếp.
Cách gọi tên các dây này có thể thay đổi tùy theo vùng miền và giới nhạc sĩ. Tuy nhiên, quy tắc cách khoảng cách giữa các cung phải được tuân theo.
Cách bảo quản dây đàn tranh
Đàn tranh Trung Quốc đã trở thành biểu tượng quý giá của người Trung Hoa, nhưng cũng cần chú ý bảo quản dây đàn. Sau một thời gian sử dụng, dây đàn có thể bị mai một, rỉ sét hoặc dính bẩn. Để làm sạch dây đàn, bạn có thể dùng một tấm giấy mềm hoặc vải lau kính để lau nhẹ nhàng dọc theo dây đàn.
Đàn tranh là một nhạc cụ đặc biệt và có giá trị. Việc nắm rõ thông tin về số lượng dây và các loại đàn tranh sẽ giúp bạn hiểu hơn về nhạc cụ này và cảm nhận được sự đặc biệt của âm nhạc dân tộc Việt Nam. Để tìm hiểu thêm về đàn tranh và các sản phẩm nhạc cụ khác, hãy truy cập vào Viettel AIO.

Bài viết liên quan: