Trong tiếng Việt, có sự khác biệt về từ ngữ khi đề cập đến trà và chè. Ở miền Bắc, chúng ta thường sử dụng từ “chè” như trong câu ca dao của Hà Nội “Uống chè mạn hảo, ngâm nôm Thuý Kiều”. Tuy nhiên, ở miền Nam, chúng ta dùng từ “trà” để chỉ cây trồng và từ “chè” để chỉ sản phẩm chế biến. Mỗi miền đều có sự phân biệt riêng về cây trồng và sản phẩm chế biến.
Cách Sử Dụng Từ “Trà” và “Chè”
Ở miền Nam, người ta dùng từ “trà” khi nói về các loại cây trồng và sản phẩm chế biến như “trà Rồng Vàng” của Công ty chè Lâm Đồng, “trà Tiến Đạt, Đỗ Hữu, Quốc Thái, Thiên Hương” được ưa chuộng bởi người dân miền Nam. Trong văn hoá và nghiên cứu, người ta cũng sử dụng từ “trà” để chỉ sản phẩm như “Những chiếc ấm đất” của Nguyễn Tuân hoặc “Chén trà sương” của tác giả Khánh Tuấn.
Nguồn Gốc của Từ “Trà”
Từ “trà” có nguồn gốc từ Trung Quốc và đã được lưu truyền từ rất lâu. Trong các tác phẩm cổ đại của Trung Quốc, chữ “trà” đã xuất hiện từ đời nhà Chu. Trong cuốn sách cổ Nhi Nha, có ghi lại câu “Giả-khổ trà” (Giả là chè đắng). Từ “trà” cũng có âm đọc gần giống với âm “trà”. Tuy nhiên, trước thời kỳ nhà Tần, các nước ở Trung Quốc có ngôn ngữ và tên gọi khác nhau cho cùng một sự vật, và việc viết chữ cũng không được thống nhất.
Từ trước nhà Đường, đã có nhiều tên gọi và viết chữ khác nhau cho chè. Từ khoảng 750 năm trước công nguyên, từ “trà” đã có nhiều nghĩa và chỉ 3 sự vật khác nhau: một thứ nước uống, một loại cây rau đắng và hoa trắng của một loại cây cỏ.
Sau này, từ “trà” đã được định hình chính thức với 10 nét gồm biểu tượng của lá cây, tán cây, gốc và thân cây. Từ “trà” cũng có nhiều cách đọc khác nhau tùy theo vùng miền và tập quán riêng của mỗi dân tộc.
Tên Gọi Chè Ở Các Nước Khác
Trên thế giới, các tên gọi chè đều xuất phát từ Trung Quốc. Âm “CHA” của chữ trà đã được lan truyền ra nhiều nước và chữ viết của nhiều ngôn ngữ. Nhật Bản dùng chữ trà và đọc là “CHA”. Ba Tư dùng “CHA” sau đó biến âm thành “SHAI”. Các nước khác cũng dùng âm “CHA” nhưng có biến thể riêng như “Chay” (Thổ Nhĩ Kỳ), “The'” (Pháp), “TE'” (Tây Ban Nha), “THEE” (Hà Lan). Từ “CHA” đã truyền bá ra nhiều nước láng giềng của Ấn Độ như Sri Lanca và Pakixtan. Việt Nam gần gũi với Trung Quốc nên sử dụng từ “Trà” và “Chè”.
Với những thông tin trên đây, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về sự khác biệt giữa trà và chè. Trà là một thứ nước uống có tác dụng chữa bệnh, trong khi chè có thể chỉ cây trồng và sản phẩm chế biến. Sự khác biệt trong từ ngữ này đã được lưu truyền từ rất lâu và trở thành một phần của văn hóa và nghiên cứu trên thế giới.
Nguồn:
- Đặng Hanh Khôi – Chè và công dụng. NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1993.
- Vương Úc Phong và cộng tác viên – Trung Quốc, quê hương cây chẻ. NXB Công ty xuất bản hữu hạn văn hoá giáo dục Hồng Kông và Tổng công ty xuất nhập khẩu súc sản và thổ sản Trung Quốc cộng tác xuất bản 1991.
- Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong – Cây chè Việt Nam – NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1997.
- TCTCVN – Văn hoá Trà, xưa và nay – 1997, Hà Nội.
- Nguyễn Tuân – Những chiếc ấm đất, Chén trà sương – Vang bóng một thời. NXB Hà Nội, 1998.
Đọc thêm tại Viettel AIO

Bài viết liên quan: