Có những sự giải thích về từ vựng trong tiếng Việt xuất phát từ ngữ âm học so sánh và phương âm Trung Quốc, khiến chúng ta cười ngả nghiêng. Trong số đó, giải thích về cặp từ “Anh Cả” và “Anh Hai” ở hai miền Nam và Bắc là điển hình.
TÓM TẮT
Cự 巨 = Cả
Từ “Cự” có ý nghĩa tương cận với từ “Cả”. Trong tiếng Việt, từ này có nghĩa là to, lớn. Tuy nhiên, từ “Cự” còn mang nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có nghĩa “most” (gần với từ “Cực” và “Tối”) được ghi chép trong các từ điển và sách cổ Trung Quốc nhưng không có trong từ điển tiếng Việt. Tuy vậy, nghĩa “most” của từ “Cự” vẫn tồn tại trong cụm từ “Tất Cự” chính là “Tất Cả”.
Đại 大 = Hai, Đôi/Đối = (số) Hai
Từ “Anh Cả” trong tiếng Trung Trung Quốc và tiếng Việt đều có ý nghĩa anh Cả. Từ “Đại” cũng có âm “Thái” tương tự như âm “To” trong tiếng Việt. Trong quá trình biến âm tiếng Trung suốt 2000 năm qua, từ “Thái” đã mất phụ âm “t” để trở thành từ “Hai” (Tiếng Việt) hoặc “Hái” (tiếng Cám phổ biến ở một số vùng miền Trung và Bắc Trung Quốc).
Âm “Hai” trong tiếng Việt liên quan đến cặp từ “Đôi/Đối”. Các từ này thuộc nhóm từ lõi tối cổ của các ngôn ngữ châu Á và châu Âu. Qua quá trình biến âm, âm “Đôi/Đối” trong tiếng Quan Thoại Liễu Châu (Trung Quốc) và tiếng Ôn Châu (Trung Quốc) đều giữ nguyên âm “tai”, giống như âm “tai” trong tiếng Việt.
Có nhiều từ liên quan đến số 2 trong các ngôn ngữ khác nhau, nhưng điều đặc biệt là âm “Đại” trong “Anh Cả” và “Anh Hai” (tiếng Trung) lại tương đồng với âm chỉ số 2 trong tiếng Việt.
Một ví dụ đáng chú ý khác là âm “Hai” (số 2) trong tiếng Việt có liên quan đến cặp từ “Hai/Thai/Thay/Thơi/Đài/Đày” được đọc từ chữ “Đài”.
Tổng kết
Như vậy, từ nguyên “Cả” trong “Anh Cả” và từ nguyên “Hai” trong “Anh Hai” đều có nguồn gốc từ chữ “Cự” và “Đại” trong tiếng Trung.
Những giải thích này có vẻ đùa vui nhưng thực tế chúng thể hiện sự dung hòa của ngôn ngữ và mang đầy đủ ý nghĩa của tiền nhân mà ngay cả các từ điển tiếng Việt đồ sộ hiện nay cũng chưa thể giải thích được.
Việc tìm ra những liên hệ giữa âm chỉ số 2 trong tiếng Việt và âm “Đại” trong “Anh Cả” đã đưa chúng ta đến giải pháp gọi anh cả là “Anh Hai” và tiếp tục đếm từ Hai. Đồng thời, cách gọi này cũng nhắc chúng ta đến con Heo trong tiếng lóng nam bộ, vốn có cùng âm với từ “Hai”.
Tất cả những sự tương đồng âm này đã hé lộ những dấu vết rõ nét của từ nguyên chỉ số 2 trong tiếng Việt.
Ôn lại hai câu hỏi nhỏ phía trên: “Anh Cả anh Hai, cả hai đều là anh Cả” và “Vợ Cả vợ Hai, cả hai đều là vợ cả”. Hy vọng bạn đã hiểu được ý nghĩa lời đùa vui đó. Đây là những giải thích đáng tin cậy, dựa trên ngôn ngữ và di sản của chúng ta.
Đông Giang, 06.01.2021
@T.T.Du


Bài viết liên quan: